Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

TH 38 NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TIỂU HỌC


TH 38
NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TIỂU HỌC
I. Nhận thức:
1. Nội dung:
1.1. Một số vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
1.1.1. Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
            Hoạt động GDNGLL là những hoạt động giáo dục được tổ chức theo các chủ đề giáo dục từng tháng với thời lượng 4 tiết/tuần. (Chương trình giáo dục cấp Tiểu học, Ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). Với quan niệm này thì hoạt động GDNGLL, Hoạt động tự chọn và Hoạt động tập thể (sinh hoạt toàn trường dưới cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội TNTP HCM, sinh hoạt Sao Nhi đồng) là những hoạt động giáo dục độc lập với nhau trong nhà trường.
            Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
            Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác.
1.1.2. Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Hoạt động GDNGLL là một bộ phận quan trọng của chương trình giáo dục nhà trường. Hoạt động GDNGLL nối tiếp hoạt động dạy học các môn văn hóa; là con đường quan trọng để gắn học với hành, lí thuyết với thực tiễn, nhà trường với xã hội. Hoạt động GDNGLL tạo cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm những điều đã học vào trong thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở đó củng cố, khắc sâu, mở rộng những kiến thức, kĩ năng các môn học cho HS.
- Hoạt động GDNGLL có vai trò quan trọng góp phần giáo dục nhân cách, phát triển toàn diện cho HS tiểu học.
1.1.3. Các đặc điểm của hoạt động GDNGLL ở tiểu học
- Họat động GDNGLL phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS tiểu học
- Hoạt động GDNGLL mang tính linh hoạt, mềm dẻo, mở hơn hoạt động dạy học.
- Nội dung hoạt động GDNGLL mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục, sống một cách dễ dàng, thuận lợi hơn.
- Các hình thức đa dạng của hoạt động GDNGLL giúp cho việc chuyển tải các nội dung giáo dục tới HS một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn.
- Hoạt động GDNGLL có khả năng phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
1.1.4. Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
            Thực hiện chương trình về tổ chức hoạt động:
- Mỗi lớp cử 01 đ/c một giáo viên trưởng khối. Trước khi tổ chức các hoạt động trưởng khối tổ chức họp GVCN của khối để xây dựng kế hoạch hoạt động và gửi về Ban hoạt động NGLL để theo dõi kiểm tra.
- Trong quá trình tổ chức hoạt động, Ban HĐNGLL đã sử dụng linh hoạt các phương pháp nhằm mang lại hiệu quả cao trong công việc HĐNGLL như: Phương pháp thảp luận nhóm, Phương pháp đóng vai, Phương pháp giả quyết vấn đề, Phương pháp tình huống, phương pháp giao nhiệm vụ, Phương pháp trò chơi, Phương pháp tổ chức hoạt động giao lưu, Phương pháp diễn đàn.
- Đối với những hoạt động lớn, trước khi thực hiện các hoạt động thì Ban HĐNGLL của trường phối hợp với Công đoàn trường, Đoàn Đội và các phòng ban, tổ trong nhà trường trong việc xây dựng, phổ biến và thực hiện các kế hoạch; Tham mưu với nhà trường ra Quyết định thành lập BTC, BGK, phân công nhiệm vụ cụ thể. Đối với các lớp căn cứ theo kế hoạch phải có sự chuẩn bị tốt về mọi mặt để tham gia tốt các hoạt động.
2. Các nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở bậc Tiểu học:
            Hiện nay, theo chỉ đạo của Bộ, các hoạt động GDNGLL ở trường tiểu học được cấu trúc theo chủ đề từng tháng, gắn với những ngày lễ lớn trong năm và đặc điểm nhà trường. Cụ thể:
Tháng
Chủ đề

9
Mái trường thân yêu của em
- Giáo dục về truyền thống nhà trường, về nội quy trường lớp.
- Giáo dục an toàn giao thông.
- Vui Trung Thu
10
Vòng tay bạn bè
- Giáo dục tình cảm bạn bè.
- Giáo dục nhân ái, nhân đạo.
11
Biết ơn thầy cô giáo
- Giáo dục lòng kính trọng và biết ơn thầy cô giáo
- Giáo dục bảo vệ môi trường
12
Uống nước nhớ nguồn
- Giáo dục lòng tự hào và biết ơn đối với những người đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc
1
Ngày Tết quê em
- Giáo dục truyền thống dân tộc
2
Em yêu Tổ quốc Việt Nam
- Giáo dục tình yêu đối với quê hương,
đất nước
3
Yêu quý mẹ và cô giáo
- Giáo dục tình cảm yêu quý đối với bà, mẹ, cô giáo, chị em gái; tôn trọng, thân thiện, đoàn kết với các bạn gái
4
Hòa bình và hữu nghị
- Giáo dục tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới
- Hiểu biết và tự hào về chiến thắng 30 – 4 – 1975
5
Bác Hồ kính yêu
- Giáo dục tình cảm kính yêu Bác Hồ, giáo dục ý thức đội viên Đội TNTP HCM
3. Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở bậc Tiểu học:
            Hình thức hoạt động GDNGLL ở trường tiểu học rất phong phú, đa dạng.
            Dưới đây là một số hình thức phổ biến:
          - Hoạt động thư viện.
          - Trò chơi tập thể, trò chơi dân gian (bịt mắt bắt dê, kéo co, rồng rắn lên mây, nhảy dây, ô ăn quan, mèo đuổi chuột, chim bay cò bay, ném còn, …)
          - Hát các bài hát thiếu nhi, hát dân ca, múa tập thể, múa dân gian (múa nón, múa quạt, nhảy sạp, xòe Thái,…), đọc thơ, kể chuyện, diễn kịch.
          - Vẽ tranh, triển lãm tranh.
          - Làm báo tường.
          - Thể dục thể thao (thể dục nhịp điệu, đá cầu, cầu lông, bóng bàn, bóng đá, khiêu vũ thể thao, nhảy Hip hop,..).
          - Tổ chức các ngày Hội (Ngày hội môi trường, Hội vui học tập, Hội hóa trang, vui Trung Thu, Ngày hội của bà, của mẹ, Ngày Hội sức khỏe, Ngày hội trao đổi đồ dùng, đồ chơi, sách truyện,…)
          - Hoạt động kỉ niệm các ngày lễ lớn trong năm như:
          + Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11
          + Ngày quốc phòng toàn dân 22/12
          + Ngày thành lập Đảng CSVN 3/2
          + Ngày phụ nữ quốc tế 8/3
          + Ngày thành lập Đoàn TNCS HCM 26/3
          + Ngày thành lập Đội TNTP HCM 15/5
          + Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5
          - Hoạt động tham quan, du lịch các di tích lịch sử, di tích văn hóa, các danh lam thắng cảnh.
          - Hoạt động nhân đạo (quyên góp ủng hộ các bạn HS nghèo vượt khó trong lớp, trong trường, ở địa phương; ủng hộ nạn nhân chất độc da cam; ủng hộ những người có hoàn cảnh khó khăn, bị thiên tai, bão lụt, người khuyết tật,…).
          - Hoạt động đền ơn đáp nghĩa (thăm hỏi các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các lão thành Cách mạng, các thương binh, gia đình liệt sĩ ở địa phương).
          - Hoạt động giao lưu (giao lưu, kết nghĩa giữa HS các lớp, các trường, các địa phương và HS quốc tế; giao lưu giữa HS với các chuyên gia, các nhà hoạt động xã hội, các cựu chiến binh, những người lao động giỏi ở địa phương, ….)
          - Hoạt động môi trường (tổng vệ sinh trường lớp, đường làng, ngõ phố; trồng cây, trồng hoa ở sân trường, vườn trường, đường làng, ngõ xóm; dọn rác ở bãi biển; tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường và các hoạt động bảo vệ môi trường ở địa phương;…)
          - Hoạt động khéo tay hay làm (Làm búp bê, làm con rối, làm hoa giấy, làm đèn ông sao, đèn xếp, may quần áo cho búp bê, cắm hoa, bày cỗ Trung Thu, làm đồ chơi từ vỏ hộp, vỏ lon bia;…)
          - Hoạt động câu lạc bộ:
          + Câu lạc bộ bóng đá, bóng bàn, võ thuật,...
          + Câu lạc bộ những người thích khám phá
          + Câu lạc bộ các nhà môi trường trẻ
          + Câu lạc bộ những tuyên truyền viên trẻ tuổi
          + Câu lạc bộ Tiếng Anh/ Tiếng Nga/ Tiếng Pháp/Tiếng Trung…
          +Câu lạc bộ ca hát, …

TH: 37 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

TH: 37
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC  HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP  Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
I. Nhận thức:
1. Khái niệm
            Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động  được tổ chức ngoài giờ học các môn học. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp  là sự tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lí thuyết với thực hành, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của học sinh.
2. Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL):
      - Củng cố, khắc sâu những kiến thức đã được học qua các môn học ở trên lớp.
      - Phát triển sự hiểu biết của học sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ đó làm phong phú thêm vốn tri thức của các em.
      - Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng ban đầu, cơ bản cần thiết phù hợp với sự phát triển chung của trẻ (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tham gia các hoạt động tập thể, kĩ năng nhận thức,…)
      - Góp phần hình thành và phát triển tính tích cực, tự giác cho học sinh trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị- xã hội. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng cho trẻ thái độ đúng đắn với các hiện tượng tự nhiên và xã hội, thái độ có trách nhiệm đối với công việc chung. 
3. Nguyên tắc tổ chức hoạt động GDNGLL ở trường Tiểu học
            Để thực hiện được các mục tiêu trên, việc tổ chức hoạt động GDNGLL ở trường tiểu học phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Hoạt động GDNGLL phải tạo cơ hội cho HS được phát triển tối đa tiềm năng của bản thân; tạo cơ hội để các em được rèn luyện, phát triển toàn diện về các mặt: đạo đức, kĩ năng sống, thẩm mĩ, trí tuệ, thể chất, lao động, …
- Nội dung và hình thức hoạt động GDNGLL phải phong phú, đa dạng, tươi vui, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi tiểu học, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, hấp dẫn thu hút HS, không mang tính chất áp đặt, nặng nề, khô cứng, gây nhàm chán cho các em.
- Hoạt động GDNGLL phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nhà trường (thời lượng, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ GV, công nhân viên nhà trường, khả năng tài chính, khả năng đóng góp của phụ huynh,...);  phải gần gũi với cuộc sống thực tiễn của HS; phải phù hợp với đặc điểm văn hóa địa phương và yêu cầu giáo dục của  từng vùng, miền, địa phương.
- Tổ chức hoạt động GDNGLL phải đảm bảo huy động được sự tham gia tích cực của HS vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động một cách phù hợp với khả năng của các em: từ đề xuất ý tưởng hoạt động; thiết kế, lập kế hoạch hoạt động; chuẩn bị nội dung, nhân lực, trang thiết bị cần thiết cho hoạt động; đến tiến hành và đánh giá kết quả hoạt động.  
- Các hoạt động GDNGLL ở trường tiểu học cần phải được bố trí, sắp xếp  đan xen với việc dạy học các môn học khác, với các hoạt động giáo dục khác của nhà trường một cách hợp lí nhằm phát huy được tính tích cực học tập, giáo dục của HS, tránh gây áp lực nặng nề cho GV và HS.
- Hoạt động GDNGLL đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: tổng phụ trách Đội, lãnh đạo nhà trường, GV dạy nhiều môn, GV dạy môn chuyên biệt, cha mẹ HS, Ban đại diện cha mẹ HS, cán bộ các trung tâm văn hóa, các trung tâm thể dục thể thao ở địa phương, các chuyên gia, các nhà hoạt động xã hội, cộng đồng địa phương,… Tuy nhiên, tổng phụ trách Đội phải giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức và quản lí các hoạt động GDNGLL theo quy mô trường. Còn GV chủ nhiệm phải là người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức và quản lí các hoạt động GDNGLL theo quy mô lớp/nhóm.
            Hoạt động GDNGLL ở tiểu học phải đảm bảo liên thông với hoạt động GDNGLL ở THCS và THPT.
4. Tình hình tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở tiểu học hiện nay:
- Hoạt động ngoài giờ lên lớp ở tiểu học trong những năm qua đã có nhiều sự chuyển biến rõ nét, đã được các cấp quản lý giáo dục, các trường, đội ngũ giáo viên cũng như cộng đồng quan tâm và có các giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động. Hệ thống văn bản chỉ đạo cũng đã đề cập nhiều đến việc tổ chức Hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc biệt là khi Bộ GD-ĐT phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thì  việc đầu tư cho Hoạt động ngoài giờ, việc gắn giáo dục với cộng đồng đã được chú trọng nhiều hơn.  
- Song, bên cạnh đó, với tình hình hiện nay nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế, chương trình còn đơn điệu, cứng nhắc.
Vẫn còn Cán bộ quản lý nhà trường và giáo viên  chưa thực sự quan tâm hoặc chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động Ngoài giờ lên lớp, gần như cho rằng đó là nhiệm vụ , là hoạt động cuả tổ chức đoàn thể  nhất là Chi đoàn và Tổng phụ trách Đội .
- Việc định hướng nội dung, hình thức về hoạt động ngoài giờ lên lớp ở một số trường chưa có sự sáng tạo, hầu như vẫn còn lệ thuộc nhiều vào sự chi phối của công văn 811/CV-SGD ngày 23/8/2004 v/v hướng dẫn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở bậc Tiểu học. Lãnh đạo một số trường chưa có biện pháp cụ thể, năng lực tổ chức hoạt động ngoài giờ còn của một số giáo viên vẫn còn hạn  chế. 
Khá nhiều giáo viên thường dành thời gian của Hoạt động ngoài giờ lên lớp để ôn kiến thức,kĩ năng , giải quyết các phần việc về lĩnh vực dạy học . Nhiều trường ít chú ý đầu tư thời gian cho HĐNGLL bởi thường mất nhiều thời gian, nếu tổ chức không tốt không những không mang lại lợi ích gì mà còn ảnh hưởng chất lượng hoạt động dạy và học trên lớp, tốn kém kinh phí mà không có nguồn tài chính hỗ trợ , có quan điểm còn cho đây là họat động vui chơi nên không quan trọng, không cần thiết.
- Nhìn chung, hoạt động NGLL vẫn còn chưa phát huy được hết ý nghĩa thực chất của nó đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chưa thực sự được các cấp quản lý và giáo viên đầu tư đúng nghĩa. Trong toàn ngành thực hiện chưa được đồng bộ thống nhất , chưa có chiều sâu.
5. Các yêu cầu khi tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp 
            Đa dạng hóa các hình thức HĐNGLL: khắc phục tính đơn điệu lập đi lập lại vài hình thức đã quá quen thuộc với HS.
- Nắm vững nội dung hoạt động tháng, cụ thể hóa thành nội dung hoạt động tuần.
- Lựa chọn các hình thức hoạt động cho phù hợp với nội dung tuần.
- Phát huy tính tích cực của HS.
- GVCN cần có những kỹ năng cần thiết để tổ chức hoạt động này có hiệu quả:
            + Kỹ năng đề ra mục tiêu
            + Kỹ năng thiét kế tiến trình hoạt động
            + Kỹ năng triển khai hoạt động
            + Kỹ năng huy động các lực lượng hỗ trợ
            + Kỹ năng đánh giá hoạt động
- Tăng cường vận dụng các thiết bị phục vụ cho hoạt động như máy vi tính, …
            Tổ chức các nội dung sinh hoạt giáo dục ngoài giờ lên lớp kết hợp tổ chức giới thiệu các trò chơi dân gian trong kế hoạch thực hiện “Phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh tự giác, tích cực tham gia phong trào, các tổ khối được phân công xây dựng kế hoạch cần có sự chuẩn bị, đầu tư thời gian công sức thật chu đáo để các buổi sinh hoạt thật sự sôi động thu hút sự tham gia của mọi học sinh.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC


Một số giải pháp hình thành phẩm chất, năng lực cho học sinh tiểu học
          Việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nêu trên bước đầu hình thành các năng lực, phẩm chất cần thiết cho học sinh như: năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, tự trọng, tự tin, tính kỉ luật...
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 
          Giúp giáo viên chuyển từ dạy học thành quá trình tự học của học sinh
          Để làm được điều này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có hiểu biết cơ bản về nội dung chương trình của lớp học, cấp học. Mạnh dạn đổi mới cách thiết kế và tổ chức lớp học trong đó các hoạt động thực hành cần được thực hiện thường xuyên. Chuyển quá trình thuyết giảng một cách hình thức, áp đặt của người dạy thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám phá của người học.
          Trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên có thể thực hiện theo trình tự:
          - Giúp học sinh nắm được mục tiêu nhiệm vụ học tập;
          - Tự mình giải quyết nhiệm vụ học tập;
          - Khi gặp khó khăn mới trao đổi với bạn (khi đó nhóm học tập hình thành một cách tự nhiên theo nhu cầu của chính các em).
          - Các bạn trong nhóm trao đổi bài kiểm tra cho nhau, nói cho nhau kết quả, cách làm của mình.
          - Báo cáo kết quả học tập trước lớp cho các bạn và cô giáo. 
          - Thực hiện nhiệm vụ học tập mới.
          Trong khi học sinh học, giáo viên chọn vị trí thích hợp quan sát thái độ, cử chỉ nét mặt để phát hiện em nào gặp khó khăn, kịp thời có biện pháp giúp đỡ. Nếu nhiệm vụ học tập là vấn đề khó với đa số học sinh, giáo viên mới hướng dẫn chung với cả lớp. Để học sinh thuận lợi trong trao đổi, tương tác, việc kê bàn ghế cần bố trí phù hợp, nên kê theo nhóm, học sinh ngồi đối diện với nhau.
          Với cách tổ chức dạy học như vậy, cách đánh giá học sinh cũng được chuyển trọng tâm từ đánh giá "kết thúc", đánh giá "tổng kết" sang đánh giá quá trình, đánh giá "tiến trình"; chuyển đánh giá "bằng điểm số"sang đánh giá "bằng nhận xét".
          Việc đánh giá quá trình phát triển, đánh giá sự tiến bộ mới là đánh giá thiết thực và hiệu quả nhất cho sự phát triển của mỗi học sinh.
          Điều này đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên quan sát, theo dõi cá nhân học sinh, nhóm học sinh trong quá trình học tập để có nhận định, động viên hoặc gợi ý, hỗ trợ kịp thời đối với từng việc làm, từng nhiệm vụ của mỗi cá nhân hoặc của cả nhóm học sinh.
          Hiện nay sách giáo khoa theo chương trình VNEN được thiết kế khá phù hợp, các nội dung, nhiệm vụ học tập cho cá nhân, nhóm, cả lớp khá rõ ràng. Tuy nhiên sách giáo khoa theo chương trình hiện hành không như vậy. Điều này đòi hỏi, mỗi giáo viên phải tâm huyết, đầu tư công sức để thiết kế các nhiệm vụ học tập thật linh hoạt, phù hợp với điều kiện của lớp.
Xuất phát từ yêu cầu đó, nhà trường cần đổi mới trong việc chỉ đạo thực hiện chương trình và sách giáo khoa:
Một là, nhà trường cần chủ động trong việc xây dựng thời khoá biểu để thực hiện chương trình dạy học. 
          Căn cứ để xây dựng thời khoá biểu cần thực hiện:
          - Kế hoạch dạy học các môn được Bộ GD&ĐT quy định;
          - Số lượng, tỷ lệ giáo viên trên lớp của nhà trường;
          - Thông tư số 28 của Bộ GD&ĐT quy định định mức lao động của giáo viên phổ thông;
          - Các điều kiện để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày của nhà trường;
Hai là, giao quyền tự chủ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.
          Để xác định nội dung bài dạy, giáo viên được quyền chủ động, linh hoạt và phải thực sự sáng tạo để lựa chọn nội dung cho thật phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình. Giáo viên cần xác định những nội dung dạy học chung cho cả lớp nhằm đạt được yêu cầu chuẩn kiến thức và kỹ năng, đồng thời xác định nội dung dạy học riêng cho từng nhóm đối tượng. Với những nội dung không phù hợp với học sinh, giáo viên có thể chủ động thay thế bằng những nội dung khác trên cơ sở đảm bảo yêu cầu về kiến thức và kỹ năng. Với các bài tập có trong sách giáo khoa nhưng nội dung không gần gũi với học sinh có thể được thay thế bằng bài tập khác có độ khó tương tự nhưng gần gũi dễ hiểu hơn với các em.
Ba là, tự chủ trong việc lựa chọn phương pháp dạy học.
          Việc lựa chọn phương pháp dạy học phụ thuộc vào năng lực, trình độ, sở trường của giáo viên và đối tượng học sinh. Trong quá trình dạy học, giáo viên được chủ động lựa chọn các hình thức dạy học, kết hợp các phương pháp dạy học sao cho học sinh tích cực tham gia bài học. Trong cùng một bài dạy hay một nội dung dạy học của cùng một tiết học, mỗi giáo viên lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học khác nhau.
Bốn là, tự chủ về thời lượng dạy học.
          Thời lượng dạy học được quy định cho từng môn học, tiết học chỉ mang tính tương đối. Trong quá trình dạy học, giáo viên được quyền chủ động tăng hoặc giảm thời lượng một số bài học trên cơ sở không tăng hoặc giảm tổng thời gian dạy học trong ngày.
Năm là, nâng cao năng lực tự chủ cho giáo viên trong việc thực hiện chương trình giáo dục.
          Một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ cho giáo viên:
- Thực hiện tốt công tác đánh giá giáo viên hàng năm theo “chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học”, trên cơ sở đó xác định yêu cầu tự bồi dưỡng của từng giáo viên để đáp ứng các tiêu chí của chuẩn nhằm tư vấn định hướng công tác tự bồi dưỡng của mỗi giáo viên.
- Tổ chức hội thảo về nâng cao năng lực tự chủ trong việc thực hiện chương trình giáo dục. Giao cho giáo viên giỏi, giáo viên có năng lực chịu trách nhiệm trong việc đề xuất những cách làm hay để giáo viên cùng thảo luận và đi đến kết luận về biện pháp thực hiện.
- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn với nội dung dự giờ dạy minh hoạ ở nhiều lớp khác nhau nhằm giúp giáo viên có thể học tập lẫn nhau, tạo điều kiện để từng người rút ra những kinh nghiệm cho riêng mình và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo cho đối tượng học sinh của lớp mình.
Tự chủ trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm
Hoạt động ngoài giờ lên lớp có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống và hình thành nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
Giáo viên được chủ động trong việc bố trí thời gian, nội dung và hình thức hoạt động theo điều kiện của lớp, của trường.
Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo viên cần lựa chọn những nội dung để học sinh cả lớp được tham gia; khuyến khích, động viên và tạo cơ hội để các em được tham gia bàn bạc từ khâu chuẩn bị đến khâu thực hiện và có viết thu hoạch cho bản thân sau mỗi hoạt động. Có làm như vậy, mới hình thành được ở các em năng lực phán đoán, óc tổ chức, năng lực tổng kết đánh giá cũng như các phẩm chất tự tin, tự chịu trách nhiệm, tinh thần hợp tác chia sẻ.
Ví dụ: Cuối tuần này, lớp dự định tổ chức một gian hàng để tham gia hội chợ cùng với các lớp khác. Giáo viên cần gợi ý để các em bàn bạc thảo luận xem mình cần chọn những mặt hàng nào? Nguồn hàng lấy ở đâu ra? Sắp xếp gian hàng cần chuẩn bị những gì? Ai là người bán? Khi bán hàng cần có thái độ ra sao? Khi người mua chê, hoặc trả giá thấp thì xử lí thế nào? Dự đoán mặt hàng nào bán chạy nhất?... Giáo viên đề nghị các em ghi chép cẩn thận để phân công, ghi cả những tình huống đã dự đoán. Sau khi trải nghiệm, giáo viên đề nghị các em ghi chép lại kết quả đối chiếu với những gì đã dự đoán trước đó để rút kinh nghiệm cho bản thân.
Nhà trường phối hợp với Tổng phụ trách Đội tổ chức các hoạt động chung cho học sinh theo khối lớp hay toàn trường. Những hoạt động này cần huy động sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng để họ thêm hiểu và có những ý kiến đóng góp sát thực trong việc đánh giá học sinh.
Tổ chức và duy trì tốt hoạt động của hội đồng tự quản; hoạt động các câu lạc bộ sở thích; phát huy tác dụng của các góc trang trí lớp học, hoạt động thư viện thân thiện, thư viện xanh...
Giáo viên cần mạnh dạn giao cho hội đồng tự quản thực hiện các nhiệm vụ quản lí lớp, duy trì tổ chức sinh hoạt lớp, giờ chào cờ đầu tuần; khuyến khích các em tích cực tham gia trang trí lớp, tự tổ chức các hoạt động vui chơi, đăng kí tham gia các câu lạc bộ, tránh làm thay, làm hộ học sinh. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người tư vấn giúp đỡ. Làm như vậy các em mới có cơ hội bộc lộ khả năng của bản thân, rèn luyện các phẩm chất, năng lực cần thiết.
Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, các kĩ thuật dạy học tích cực: Khăn trải bàn, Sơ đồ tư duy, Nhóm cộng tác...
Đây là các phương pháp, kĩ thuật dạy học tương đối dễ áp dụng ở tiểu học, không đòi hỏi phải đầu tư nhiều phương tiện, đồ dùng học tập, song lại là cơ hội tốt để các em rèn tính hợp tác, kĩ năng chia sẻ, lắng nghe, óc tư duy, kĩ năng ra quyết định.
Triển khai thực hiện dạy học các môn Tự nhiên xã hội, khoa học theo Phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột
Đây là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên. "Bàn tay nặn bột" (BTNB) chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra...
Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
Cùng giáo viên xây dựng sứ mạng, tầm nhìn, xác định giá trị của nhà trường; giúp mỗi giáo viên thấy rõ vai trò của mình trong nhà trường, từ đó chia sẻ tầm nhìn để giáo viên nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học thông qua sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
Xét cho cùng, chất lượng giáo dục của nhà trường phụ thuộc vào chất lượng của mỗi giáo viên, năng lực chuyên môn của mỗi thầy cô lại phụ thuộc rất lớn vào việc học tập bồi dưỡng thường xuyên. Ở trường, sinh hoạt chuyên môn chính là nhằm giúp mỗi giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn cho bản thân.
Sinh hoạt chuyên môn(SHCM) là một quá trình các giáo viên tham gia vào các khâu từ chuẩn bị, thiết kế bài học sáng tạo, dạy thể nghiệm, dự giờ suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến về những gì đã diễn ra trong việc học của học sinh. Đây là hoạt động học tập lẫn nhau, học tập trong thực tế, là nơi thử nghiệm và trải nghiệm những cái mới, là nơi kết nối lý thuyết với thực hành, giữa ý tưởng và thực tế. Trong quá trình học tập đó, giáo viên sẽ học được nhiều điều để phát triển năng lực chuyên môn mới. Cần tạo cho họ có động lực tham gia SHCM để học tập lẫn nhau, nâng cao năng lực chuyên môn. Cần cho giáo viên thấy được SHCM có mục đích chính là nâng cao chất lượng các bài học của học sinh. Để đạt được mục đích đó giáo viên cần biết: Học cách quan sát tinh tế, nhạy cảm của học sinh. Hình thành khả năng quan sát, phán đoán và phản ứng trước thông tin thu được về học sinh, đây là một năng lực mới đặc biệt quan trọng đối với giáo viên. Đào sâu hiểu biết về công việc của mỗi giáo viên, làm cho họ hiểu sâu, rộng hơn về học sinh, đồng nghiệp, về bản thân trước các yêu cầu luôn thay đổi trong hoạt động dạy học. Hình thành sự chấp nhận lẫn nhau giữa các giáo viên và giữa giáo viên với học sinh.

CÁC YÊU CẦU CỦA CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN TIỂU HỌC


CÁC YÊU CẦU CỦA CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
Điều 5. Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
1. Nhận thức tư tưởng chính trị với trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, góp phần phát triển đời sống văn hoá cộng đồng, giúp đỡ đồng bào gặp hoạn nạn trong cuộc sống;
b) Yêu nghề, tận tụy với nghề; sẵn sàng khắc phục khó khăn hoàn thành tốtý nhiệm vụ giáo dục học sinh;
c) Qua hoạt động dạy học, giáo dục học sinh biết yêu thương và kính trọng ông bà, cha mẹ, người cao tuổi; giữ gìn truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam; nâng cao ý thức bảo vệ độc lập, tự do, lòng tự hào dân tộc, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội;
d) Tham gia học tập, nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước.
2. Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước;
b) Thực hiện nghiêm túc các quy định của địa phương;
c) Liên hệ thực tế để giáo dục học sinh ý thức chấp hành pháp luật và giữ gìn trật tự an ninh xã hội nơi công cộng;
d) Vận động gia đình chấp hành các chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương.
3. Chấp hành quy chế của ngành, quy định của nhà trường, kỷ luật lao động. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Chấp hành các Quy chế, Quy định của ngành, có nghiên cứu và có giải pháp thực hiện;
b) Tham gia đóng góp xây dựng và nghiêm túc thực hiện quy chế hoạt động của nhà trường;
c) Thái độ lao động đúng mực; hoàn thành các nhiệm vụ được phân công; cải tiến công tác quản lý học sinh trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục;
d) Đảm bảo ngày công; lên lớp đúng giờ, không tùy tiện bỏ lớp học, bỏ tiết dạy; chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy và giáo dục ở lớp được phân công.
4. Đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; tinh thần đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp; sự tín nhiệm của đồng nghiệp, học sinh và cộng đồng. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Không làm các việc vi phạm phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; không xúc phạm danh dự, nhân phẩm đồng nghiệp, nhân dân và học sinh;
b) Sống trung thực, lành mạnh, giản dị, gương mẫu; được đồng nghiệp, nhân dân và học sinh tín nhiệm;
c) Không có những biểu hiện tiêu cực trong cuộc sống, trong giảng dạy và giáo dục;
d) Có tinh thần tự học, phấn đấu nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ chính trị chuyên môn, nghiệp vụ; thường xuyên rèn luyện sức khoẻ.
5. Trung thực trong công tác; đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp; phục vụ nhân dân và học sinh. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Trung thực trong báo cáo kết quả giảng dạy, đánh giá học sinh và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được phân công;
b) Đoàn kết với mọi người; có tinh thần chia sẻ công việc với đồng nghiệp trong các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Phục vụ nhân dân với thái độ đúng mực, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của phụ huynh học sinh;
d) Hết lòng giảng dạy và giáo dục học sinh bằng tình thương yêu, sự công bằng và trách nhiệm của một nhà giáo.
Điều 6. Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức
1. Kiến thức cơ bản. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa của các môn học được phân công giảng dạy;
b) Có kiến thức chuyên sâu, đồng thời có khả năng hệ thống hoá kiến thức trong cả cấp học để nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với các môn học được phân công giảng dạy;
c) Kiến thức cơ bản trong các tiết dạy đảm bảo đủ, chính xác, có hệ thống;
d) Có khả năng hướng dẫn đồng nghiệp một số kiến thức chuyên sâu về một môn học, hoặc có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi, hoặc giúp đỡ học sinh yếu hay học sinh còn nhiều hạn chế trở nên tiến bộ.
2. Kiến thức về tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi, giáo dục học tiểu học. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Hiểu biết về đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh tiểu học, kể cả học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn; vận dụng được các hiểu biết đó vào hoạt động giáo dục và giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh;
b) Nắm được kiến thức về tâm lý học lứa tuổi, sử dụng các kiến thức đó để lựa chọn phương pháp giảng dạy, cách ứng xử sư phạm trong giáo dục phù hợp với học sinh tiểu học;
c) Có kiến thức về giáo dục học, vận dụng có hiệu quả các phương pháp giáo dục đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất và hình thức tổ chức dạy học trên lớp;
d) Thực hiện phương pháp giáo dục học sinh cá biệt có kết quả.
3. Kiến thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Tham gia học tập, nghiên cứu cơ sở lý luận của việc kiểm tra, đánh giá đối với hoạt động giáo dục và dạy học ở tiểu học;
b) Tham gia học tập, nghiên cứu các quy định về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh tiểu học theo tinh thần đổi mới; 
c) Thực hiện việc kiểm tra đánh giá, xếp loại học sinh chính xác, mang tính giáo dục và đúng quy định;
d) Có khả năng soạn được các đề kiểm tra theo yêu cầu chỉ đạo chuyên môn, đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học và phù hợp với các đối tượng học sinh.
4. Kiến thức phổ thông về chính trị, xã hội và nhân văn, kiến thức liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ, tiếng dân tộc. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Thực hiện bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đúng với quy định;
b) Cập nhật được kiến thức về giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật, giáo dục môi trường, quyền và bổn phận của trẻ em, y tế học đường, an toàn giao thông, phòng chống ma túy, tệ nạn xã hội;
c) Biết và sử dụng được một số phương tiện nghe nhìn thông dụng để hỗ trợ giảng dạy như: tivi, cát sét, đèn chiếu, video;
d) Có hiểu biết về tin học, hoặc ngoại ngữ, hoặc tiếng dân tộc nơi giáo viên công tác, hoặc có báo cáo chuyên đề nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ.
5. Kiến thức địa phương về nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh, huyện, xã nơi giáo viên công tác. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và các Nghị quyết của địa phương;
b) Nghiên cứu tìm hiểu tình hình và nhu cầu phát triển giáo dục tiểu học của địa phương;
c) Xác định được những ảnh hưởng của gia đình và cộng đồng tới việc học tập và rèn luyện đạo đức của học sinh để có biện pháp thiết thực, hiệu quả trong giảng dạy và giáo dục học sinh;
d) Có hiểu biết về phong tục, tập quán, các hoạt động thể thao, văn hoá, lễ hội truyền thống của địa phương.
Điều 7. Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm
1. Lập được kế hoạch dạy học; biết cách soạn giáo án theo hướng đổi mới. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Xây dựng được kế hoạch giảng dạy cả năm học thể hiện các hoạt động dạy học nhằm cụ thể hoá chương trình của Bộ phù hợp với đặc điểm của nhà trường và lớp được phân công dạy;
b) Lập được kế hoạch tháng dựa trên kế hoạch năm học bao gồm hoạt động chính khoá và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;
c) Có kế hoạch dạy học từng tuần thể hiện lịch dạy các tiết học và các hoạt động giáo dục học sinh;
d) Soạn giáo án theo hướng đổi mới, thể hiện các hoạt động dạy học tích cực của thầy và trò (soạn giáo án đầy đủ với môn học dạy lần đầu, sử dụng giáo án có điều chỉnh theo kinh nghiệm sau một năm giảng dạy).
2. Tổ chức và thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được tính năng động sáng tạo của học sinh. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Lựa chọn và sử dụng hợp lý các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính sáng tạo, chủ động trong việc học tập của học sinh; làm chủ được lớp học; xây dựng môi trường học tập hợp tác, thân thiện, tạo sự tự tin cho học sinh; hướng dẫn học sinh tự học;
b) Đặt câu hỏi kiểm tra phù hợp đối tượng và phát huy được năng lực học tập của học sinh; chấm, chữa bài kiểm tra một cách cẩn thận để giúp học sinh học tập tiến bộ;
c) Có sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, kể cả đồ dùng dạy học tự làm; biết khai thác các điều kiện có sẵn để phục vụ giờ dạy, hoặc có ứng dụng phần mềm dạy học, hoặc làm đồ dùng dạy học có giá trị thực tiễn cao;
d) Lời nói rõ ràng, rành mạch, không nói ngọng khi giảng dạy và giao tiếp trong phạm vi nhà trường; viết chữ đúng mẫu; biết cách hướng dẫn học sinh giữ vở sạch và viết chữ đẹp.
3. Công tác chủ nhiệm lớp; tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác chủ nhiệm gắn với kế hoạch dạy học; có các biện pháp giáo dục, quản lý học sinh một cách cụ thể, phù hợp với đặc điểm học sinh của lớp;
b) Tổ chức dạy học theo nhóm đối tượng đúng thực chất, không mang tính hình thức; đưa ra được những biện pháp cụ thể để phát triển năng lực học tập của học sinh và thực hiện giáo dục học sinh cá biệt, học sinh chuyên biệt;
c) Phối hợp với gia đình và các đoàn thể ở địa phương để theo dõi, làm công tác giáo dục học sinh;
d) Tổ chức các buổi ngoại khóa hoặc tham quan học tập, sinh hoạt tập thể thích hợp; phối hợp với Tổng phụ trách, tạo điều kiện để Đội thiếu niên, Sao nhi đồng thực hiện các hoạt động tự quản.
4. Thực hiện thông tin hai chiều trong quản lý chất lượng giáo dục; hành vi trong giao tiếp, ứng xử có văn hoá và mang tính giáo dục. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Thường xuyên trao đổi góp ý với học sinh về tình hình học tập, tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các giải pháp để cải tiến chất lượng học tập sau từng học kỳ;
b) Dự giờ đồng nghiệp theo quy định hoặc tham gia thao giảng ở trường, huyện, tỉnh; sinh hoạt tổ chuyên môn đầy đủ và góp ý xây dựng để tổ, khối chuyên môn đoàn kết vững mạnh;
c) Họp phụ huynh học sinh đúng quy định, có sổ liên lạc thông báo kết quả học tập của từng học sinh, tuyệt đối không phê bình học sinh trước lớp hoặc toàn thể phụ huynh; lắng nghe và cùng phụ huynh điều chỉnh biện pháp giúp đỡ học sinh tiến bộ;
d) Biết cách xử lý tình huống cụ thể để giáo dục học sinh và vận dụng vào tổng kết sáng kiến kinh nghiệm giáo dục; ứng xử với đồng nghiệp, cộng đồng luôn giữ đúng phong cách nhà giáo.
5. Xây dựng, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy. Bao gồm các tiêu chí sau:
a) Lập đủ hồ sơ để quản lý quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; bảo quản tốt các bài kiểm tra của học sinh;
b) Lưu trữ tốt hồ sơ giảng dạy bao gồm giáo án, các tư liệu, tài liệu tham khảo thiết thực liên quan đến giảng dạy các môn học được phân công dạy;
c) Sắp xếp hồ sơ một cách khoa học, đúng thực tế và có giá trị sử dụng cao;
d) Lưu trữ tất cả các bài làm của học sinh chậm phát triển và học sinh khuyết tật để báo cáo kết quả giáo dục vì sự tiến bộ của học sinh.
Chương III
TIÊU CHUẨN XẾP LOẠI; QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ,
XẾP LOẠI GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
Điều 8. Tiêu chuẩn xếp loại các tiêu chí, yêu cầu, lĩnh vực của Chuẩn
1. Tiêu chuẩn xếp loại các tiêu chí của Chuẩn
a) Điểm tối đa là 10;
b) Mức độ: Tốt (9 - 10); Khá (7 - 8); Trung bình (5 - 6); Kém (dưới 5).
2. Tiêu chuẩn xếp loại các yêu cầu của Chuẩn
a) Điểm tối đa là 40;
b) Mức độ: Tốt (36 - 40); Khá (28 - 35); Trung bình (20 - 27); Kém (dưới 20).
3. Tiêu chuẩn xếp loại các lĩnh vực của Chuẩn
a) Điểm tối đa là 200;
b) Mức độ: Tốt (180 - 200); Khá (140 - 179); Trung bình (100 - 139); Kém (dưới 100).
Điều 9. Tiêu chuẩn xếp loại chung cuối năm học
1. Loại Xuất sắc: là những giáo viên đạt loại tốt ở lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm;
2. Loại Khá: là những giáo viên đạt từ loại khá trở lên ở lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm;
3. Loại Trung bình: là những giáo viên đạt từ loại trung bình trở lên ở lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm;
4. Loại Kém: là những giáo viên có một trong ba lĩnh vực xếp loại kém hoặc vi phạm một trong các trường hợp:
Điều 10. Quy trình đánh giá, xếp loại
1. Định kỳ vào cuối năm học, hiệu trưởng nhà trường tiến hành tổ chức đánh giá, xếp loại giáo viên tiểu học. Cụ thể như sau:
a) Căn cứ vào nội dung từng tiêu chí, yêu cầu của Chuẩn, giáo viên tự đánh giá, xếp loại theo các tiêu chuẩn quy định tại Điều 8, Điều 9 của văn bản này;
b) Tổ chuyên môn và đồng nghiệp tham gia nhận xét, góp ý kiến và ghi kết quả đánh giá vào phiếu đánh giá, xếp loại của giáo viên. Đối với những tiêu chí có điểm 4 hoặc đạt điểm 9 phải được ít nhất 50% số giáo viên trong tổ khối tán thành. Đối với những tiêu chí có điểm từ 3 trở xuống hoặc đạt điểm 10 phải được ít nhất 50% số giáo viên trong trường tán thành;

Câu 2: TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ BẢN CHẤT NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ Khái niệm:  Như bất kỳ một tổ chức chính trị nào khác, sự tồn tại v...